Kinh nghiệm hóa học THPT: Một số kinh nghiệm phân loại và giải bài tập về muối amoni

Bộ GD và ĐT đã thành lập “chương trình quốc gia bồi dưỡng nhân tài giai đoạn 2008  2020” đây sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy việc bồi dưỡng, đào tạo nhân tài cho đất nước. Việc tổng kết, đúc rút kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi là rất cần thiết và mang tính thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Qua thực tiễn giảng dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa học tại trường THPT Hà Văn Mao tôi nhận thấy bài tập về muối amoni thường để lại nhiều ấn tượng sâu sắc. Chọn và chữa bài tập liên quan đến muối amoni khi củng cố hoàn thiện kiến thức về nitơ và hợp chất của nitơ là một nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên dạy hóa học ở nhà trường THPT, không chỉ đơn thuần củng cố các kiến thức đã học mà bài toán về muối amoni còn rèn luyện cho các em học sinh kĩ năng nhận biết, chứng minh, liên hệ thực tế vai trò của muối amoni, khắc sâu kiến thức về tính oxihoa của axit nitric và bản chất của phản ứng oxhoa - khử .... Đặc biệt hay ở bài toán “Chất khử tác dụng với dung dịch HNO3 tạo sản phẩm chứa muối amoni” nếu khéo léo dấu đi sự có mặt của NH4NO3 trong sản phẩm thì dễ tạo bất ngờ thú vị cho người giải, phát huy được khả năng phán đoán, rèn luyện tư duy ở mức độ cao, từ đó kích thích được tính ham hiểu biết lòng đam mê đối với môn học góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Hóa học ở trường THPT.
Với những lí do trên tôi đưa ra sáng kiến: “Một số kinh nghiệm phân loại và giải bài tập về muối amoni” nhằm giúp người học giải quyết tốt bài toán liên quan đến muối amoni từ đơn giản đến phức tạp một cách có cơ sở vững chắc.


Thầy cô và các bạn tham khảo thêm tại đây.

Kinh nghiệm toán THPT: Xây dựng các hoạt động học tập nhằm vận dụng những phương pháp dạy học tích cực trong dạy học định lý hình học 10

Nhằm hiện đại hóa nền giáo dục theo hướng tiếp cận các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới nhưng phải phù hợp với thực tiễn, văn hóa Việt Nam. Trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương, chính sách đổi mới về giáo dục. Yêu cầu đặt ra là phải đổi mới về phương pháp giáo dục, nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa việc đào tạo con người mới “vừa hồng, vừa chuyên” với thực trạng dạy học của nước ta hiện nay – những phương pháp đã bộc lộ nhiều yếu điểm như:
- Thầy thuyết giảng, trò tiếp nhận kiến thức một cách thụ động.
- Tri thức thường được truyền thụ dưới dạng có sẵn, ít chứa đựng sự tìm tòi, khám phá của học sinh.
- Hoạt động dạy của thầy là chủ đạo, làm lu mờ hoạt động học của trò.
- Trong tiết học, các hoạt động học tập (HĐHT) nhằm giúp học sinh tự giác, tích cực tìm tòi, khám phá, kiến tạo kiến thức còn hạn chế.
Tinh thần của phương pháp dạy học (PPDH) tích cực là hướng học sinh (HS) vào mục đích khám phá kiến thức một cách tự giác, tích cực, sáng tạo. Tuy nhiên, để phát huy được hiệu quả của các phương pháp này trong dạy Toán nói chung và Hình học 10 nói riêng, đòi hỏi chúng ta phải xây dựng các HĐHT phù hợp cho học sinh. Đây chính là vấn đề đang được nhiều giáo viên (GV) trăn trở.
  2. Nhu cầu nghiên cứu
Mặc dù hiện nay, đại đa số giáo viên toán bậc THPT đã và đang được tiếp cận với các phương pháp dạy học tích cực, nhưng việc khai thác các ưu điểm của nó lại chưa thực sự hiệu quả. Điều này thể hiện qua việc học sinh khám phá tri thức còn thụ động, chấp nhận tri thức được sắp đặt sẵn, thiếu tính tích cực, tự giác trong học tập. Từ thực tế đó, GV cần làm gì để thay đổi cho phù hợp?
  3. Phát biểu vấn đề nghiên cứu
Lý thuyết cổ điển về nhận thức cho rằng tri thức khoa học là con đường tìm kiếm chân lí, do đó giáo dục chủ yếu lúc bấy giờ là truyền thụ tri thức khoa học có sẵn cho người học. Chính vì thế PPDH chủ yếu là thầy thuyết giảng, trò tiếp thu một cách thụ động. Điều này đã làm hạn chế tính linh hoạt, chủ động, sáng tạo trong việc khám phá tri thức của người học. Trong những năm gần đây, có nhiều nhà giáo dục toán trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã nghiên cứu, tiếp cận các lý thuyết về phương pháp dạy học hiện đại như:

 - Dạy học theo quan điểm hoạt động;
 - Dạy học phát hiện, giải quyết vấn đề;
 - Dạy học theo quan điểm kiến tạo;
 - Dạy học theo lý thuyết tình huống;
 - Dạy học theo vấn đề.
 - Dạy học theo mô hình học hợp tác;
Mỗi hình thức đều hướng vào mục đích lấy HS làm trung tâm của hoạt động. Điều đó thực hiện được hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc xây dựng và tổ chức của GV. Vấn đề đó thuộc phạm trù phương pháp luận của PPDH toán, đặc biệt là những phương pháp hiện đại. Đó chính là lý do chính để chúng tôi xây dựng sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: “Xây dựng các hoạt động học tập nhằm vận dụng những phương pháp dạy học tích cực trong dạy học định lý hình học 10”.

Thầy cô và các bạn tham khảo thêm tại đây.

Kinh nghiệm vật lý THPT: Ứng dụng mối liên hệ giữa chuyển động tròn đều và dao động điều hòa để giải bài toán về dao động điều hòa.

Như chúng ta đều biết mục tiêu của giáo dục Việt Nam hiện nay là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp. Trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới và bảo vệ tổ quốc. Để thực hiện được mục tiêu đó thì ngành giáo dục cần đổi mới phương pháp dạy - học, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo.
Vì vậy trong thực tế ở các trường THPT, nhiều giáo viên đã và đang chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của mình. Mục tiêu giáo dục là cả một quá trình, một hệ thống và đối với các trường THPT trong đó, để học sinh tiếp tục có cơ hội học tập và phát triển toàn diện hơn ngoài việc thực hiện mục tiêu chung là giáo dục con người phát triển toàn diện xuyên suốt trong hệ thống giáo dục quốc dân thì một yêu cầu đặt ra đó là nâng cao số lượng học sinh thi đỗ vào các trường chuyên nghiệp, để các em tiếp tục có cơ hội phát triển toàn diện, thành một công dân có tri thức phục vụ cho đất nước, cho xã hội.
Hiện nay thi trắc nghiệm khách quan được đưa vào ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả trong các kì thi quan trọng như thi tốt nghiệp THPT, thi đại học của các môn khoa học cơ bản: Lí, hoá, sinh…. Phương pháp thi TNKQ yêu cầu học sinh phải có sự bao quát kiến thức và đặc biệt phải có kĩ năng tốt, tính toán  nhanh với các bài tập để có được kết quả cao trong các kì thi có môn thi TNKQ.
Từ thực tế giảng dạy bộ môn vật lí lớp 12 bản thân tôi thấy rằng học sinh nói chung và đặc biệt đối với học sinh miền núi, vùng cao, vùng sâu nói riêng khả năng tư duy và làm các bài tập vật lí nhanh phù hợp với yêu cầu thi cử hiện tại còn rất hạn chế. Trong những năm gần đây đề thi đại học, cao đẳng môn vật lí kiến thức trong đề thi chủ yếu tập trung ở lớp 12, trong đó chương " Dao động điều hoà" chiếm tỷ trong khá nhiều trong các đề thi (từ 8 - 12 câu trong tổng số 50 câu trắc nghiệm khách quan). Vây để góp phần nâng cao kết quả của bài thi thì việc giải tốt, nhanh các bài tập về chương dao động cơ là cần thiết. Vì vậy tôi mạnh dạn đưa ra một phương pháp giúp học sinh có khả năng làm nhanh và chính xác các một số dạng bài tập về dao động điều hoà, đó là đề tài: "Ứng dụng mối liên hệ giữa chuyển động tròn đều và dao động điều hoà - phương pháp véc tơ quay để giải bài tập về dao động điều hoà" để các đồng nghiệp tham khảo. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp.

Thầy cô và các bạn tham khảo thêm tại đây.

Kinh nghiệm quản lý: Nâng cao hiệu quả việc tổ chức tọa đàm đánh giá văn hóa giao tiếp, ứng xử của học sinh Trung học phổ thông bằng hình thức sân khấu hóa

Văn hóa giao tiếp và ứng xử từ lâu đã trở thành một vấn đề được nhiều người quan tâm. Trong thời đại hội nhập hiện nay, vấn đề giao tiếp và ứng xử lại trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết. Trong đó thanh niên đang đối mặt với nhiều khó khăn trong việc lựa chọn những giá trị mới vừa phù hợp truyền thống của dân tộc vừa đáp ứng xu hướng phát triển của xã hội hiện đại, nhất là việc lựa chọn hành vi ứng xử trong cuộc sống, trong học tập, công tác và các mối quan hệ xã hội.
Hành vi ứng xử văn hóa là những biểu hiện hoạt động bên ngoài của con người, được thể hiện ở lối sống, nếp sống, suy nghĩ và cách ứng xử của con người đối với bản thân, với những người chung quanh, trong công việc và môi trường hoạt động hằng ngày. Tuy nhiên hành vi ứng xử văn hóa của mỗi cá nhân là khác nhau, nó được hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện và trưởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội.
Bên cạnh những biểu hiện của hành vi ứng xử có văn hóa, hiện nay vẫn còn một bộ phận trong giới trẻ có những hành vi ứng xử thiếu văn hóa. Ðối với bản thân họ không có ý chí phấn đấu, sống buông thả, sa đà vào các tệ nạn xã hội: cờ bạc, ma túy, mại dâm... Ðây hoàn toàn là những biểu hiện của nếp sống xa lạ, sai trái, đi ngược với truyền thống văn hóa dân tộc. Hiện tượng các bạn trẻ là học sinh THPT văng tục, chửi thề; ngang nhiên vi phạm luật lệ giao thông; có thái độ không đúng mực với người già; hành động  ứng xử thiếu văn hóa nơi công cộng... còn khá phổ biến.
Ứng xử như thế nào để được coi là người có văn hóa và làm thế nào để hướng giới trẻ tới ứng xử có văn hóa? Ðây là vấn đề cấp thiết đặt ra, đòi hỏi chúng ta cần có sự nhìn nhận nghiêm túc và khách quan.
Thực hiện công Chỉ thị số: 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 Về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; thực hiện Kế hoạch năm học số 01/KH-HVM ngày 01/9/2012 của trường THPT Hà Văn Mao. Sau khi tổ chức Tọa đàm giao tiếp, ứng xử và thấy được hiệu quả giáo dục, tôi mạnh dạn đưa ra suy nghĩ của mình trong giáo dục văn hóa giao tiếp, ứng xử cho học sinh hiện nay: “ Nâng cao hiệu quả việc tổ chức tọa đàm đánh giá văn hóa giao tiếp, ứng xử của sinh Trung học phổ thông bằng hình thức sân khấu hóa”
Thầy cô và các bạn tham khảo thêm tại đây.

Kinh nghiệm ngữ văn THPT: Nâng cao kỹ năng làm dạng bài nghị luận so sánh cho học sinh lớp 12

 I. Cơ sở lí luận:
Môn ngữ  văn (bao gồm ba phần: Văn học, Tiếng Việt, Làm văn) là  một môn học nền tảng về kiến thức và công cụ giao tiếp, có vị trí quan trọng trong các môn học, góp phần tạo nên trình độ văn hóa cơ bản cho học sinh. Cùng với việc rèn kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng sử dụng tiếng Việt, phần Làm văn được chú trọng vì đây là phần thể hiện rõ nhất kĩ năng thực hành, sáng tạo của học sinh.
Làm văn gồm hai dạng: nghị luận văn học và nghị  luận xã hội. Trong xu thế ra đề tuyển sinh đại học những năm gần đây, dạng bài nghị  luận so sánh văn học chiếm tỉ lệ cao hơn nhiều so với trước đây.
ThS Trần Văn Nịch, Phó Vụ trưởng vụ GV-CBQLDN cho biết: Để hình thành cho học sinh một kỹ năng thì cần phải dạy cho họ biết cách kết hợp và huy động hợp lý các nguồn nội lực (kiến thức, khả năng thực hiện và thái độ) và ngoại lực (tất cả những gì có thể huy động được nằm ngoài cá nhân).
Như vậy, để làm tốt bài văn nghị luận văn học  học sinh cần phải được trang bị kiến thức phong phú và kĩ năng thuần thục. Đây là cơ sở để giáo viên áp dụng trong giảng dạy nghị luận văn học.
II. Cơ sở thực tiễn:
II.1. Đối với giáo viên.
Khảo sát cho thấy, việc dạy kiểu bài văn nghị luận văn học thường rập khuôn, áp đặt .Thậm chí nhiều đồng nghiệp còn cung cấp cho học sinh những bài văn mẫu để học sinh thuộc lòng, hy vọng sẽ “trúng tủ”…khiến phần lớn học sinh kiến thức nghèo nàn,và có thói quen trông chờ, ỉ lại, nảy sinh nạn quay cóp trong thi cử.
II. 2. Đối với học sinh.
Các em học và làm bài  nghi luận văn học (NLVH) một cách máy móc, còn quá lệ thuộc vào cách học khuôn mẫu, thiếu tư duy sáng tạo. Kiến thức văn học non kém, không có khả năng cảm nhận văn học một cách sáng  tạo. Vì thế số điểm học sinh  đạt được còn khiêm tốn.
II. 3. Thực trạng ra đề thi :
Nghị luận  so sánh là một kiểu bài làm văn đóng vai trò không nhỏ trong cơ cấu bài văn thi đại học những năn gần đây. Đây là kiểu bài mới, chưa được cụ thể hóa bằng một bài học riêng trong chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông, do đó ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng làm bài của học sinh cũng như quá trình định hướng ôn tập cho học sinh từ phía giáo viên. Góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, bài viết này xin đưa ra một số gợi ý để giúp cho các em ôn tập tốt trong các kì thi.

Thầy cô và các bạn tham khảo thêm tại đây.